Hôm trước có một Phật tử mang bức ảnh này đến hỏi Hoà thượng Thích Tự Do:

- Nhìn tấm ảnh này Hoà thượng nghĩ gì?

- Ta cảm thấy vui.

- Sao lại thấy vui???!!!

- Vì ta thấy đẹp.

- Ôi, Hoà thượng là nhà tu hành sao còn thấy đẹp?

- Nếu tu hành mà không còn cảm nhận được cái đẹp thì tu để làm gì!!!

Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió,
Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay,
Tiếng lích chích chim sâu trong lá,
Con chìa vôi vừa hót vừa bay.

Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện,
Sẽ được nhìn thấy các bà tiên,
Thấy chú bé đi hài bảy dặm,
Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền.

Nếu nhắm mắt nghĩ về cha mẹ,
Đã nuôi em khôn lớn từng ngày,
Tay bồng bế sớm khuya vất vả,
Mắt nhắm rồi lại mở ra ngay.

Vũ Quần Phương

Một vị vua treo giải thuởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều hoạ sĩ đã cố công . Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức va ông phải chọn lấy một.

Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên lá bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm nhìn bức tranh điều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.

Bức tranh kia cũng có những ngọn núi , nhưng những ngọc núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp . Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xoá. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào.

Nhưng khi nhà vui ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ một khe nức của một tảng đá. Trong bụi cây, một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ cũa mình…Bình yên thật sự.

“Ta chấm bức tranh này!” – Nhà vua công bố – “Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình yên có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của sự bình yên.”

Lão sống một mình trong túp lều ngay sát Cầu Sắt. Suốt đời lão chỉ làm một nghề là mài dao kéo cho cả vùng Nho Lâm rộng lớn này, và cũng nổi tiếng cả vùng nhờ cái nghề ấy. Chắc lão phải có một bí quyết hay dụng cụ đồ nghề đặc biệt nào đó nên các con dao lão mài sắc ngọt một cách khác thường. Vả lại, lão kỹ tính và làm cẩn thận lắm. Chiếc dao nhỏ lão mài miết cả tiếng đồng hồ, bao giờ xong cũng lấy một sợi tóc đặt lên lưỡi dao, thổi một cái đứt đôi mới giao cho khách hàng.

Vợ lão chết từ lâu. Cậu con trai duy nhất lấy vợ, ở rể ở huyện trên, nghe nói “chuột sa chĩnh gạo”, và không bao giờ thăm hỏi hay giúp đỡ gì bố. Trước còn khỏe, lão quảy chiếc gánh toòng teng đi khắp vùng. Mấy năm gần đây vì già, vì cả đôi chân phù thũng, lão chỉ quanh quẩn trong làng hoặc ngồi ở nhà, ai cần thì mang dao kéo tới. Bây giờ đồ Trung Quốc nhiều và rẻ nên thậm chí cả ở nông thôn, người ta cũng ít mài, mà mua cái mới. Thành ra việc không nhiều, tức là cái ăn cũng không nhiều.

Có hôm lão phải ôm bụng đói đi ngủ. Đáng ra ở tuổi lão, tức là tám mươi trở lên, theo chế độ gần đây của nhà nước, lão phải được trợ cấp mấy chục nghìn một tháng, nhưng do lão không có giấy khai sinh nên đành chịu. Thỉnh thoảng dân làng thương tình, người cho cân gạo, kẻ mấy quả trứng, hay mang những chiếc dao còn sắc đến nhờ lão mài. Có người còn cất công tìm gặp con trai lão. Anh ta hứa sẽ về đưa bố lên ở với mình nhưng mãi chẳng thấy tăm hơi đâu.

Một hôm tôi đến nhà lão và ngồi với lão cả buổi chiều. Lão nằm thu lu trên chiếc giường tre ọp ẹp, trùm kín đầu chiếc chăn chiên sờn cũ, dù trời không lạnh. Biết tôi đến, lão ngồi dậy ngay.

“Ông giáo quí hóa quá, lúc nào cũng cho quà”, lão nói khi tôi bày ra bàn mấy bắp ngô luộc, xị rượu và ít đồ nhắm.

“Tôi đến nhờ bác mài cho con dao”, tôi cười đáp.

“Tôi biết”, lão cũng cười, miệng méo xệch, một dòng nước đục rỉ ra từ khóe miệng, trông thật tội. “Dạo này bác có vẻ yếu hơn trước”.

“Ừ ừ. Tại đôi chân khốn khổ này. Và cả ho nữa.”

Vốn yêu nghề, lão cùng tôi làm vài ly nhỏ rồi bắt tay vào mài con dao của tôi, vốn còn rất sắc. Thế mà gần ba mươi phút sau lão mới chịu dừng tay, sau khi vừa mài vừa dấp dấp chất gì đó lên lưỡi dao,  chốc chốc dừng lại làm hớp rượu.

“Ông giáo xem này!” lão bảo tôi rồi nhổ sợi tóc bạc trên đầu, đặt lên lưỡi dao. Sợi tóc đứt đôi.

“Sắc quá!” tôi thốt lên.

“Cũng thường thôi,” lão nói, không phải không pha chút tự hào. “Tôi có một con còn sắc hơn nhiều”.

Nói rồi, lão lấy dưới gầm giường ra một con dao được bọc trong lớp giấy xi-măng. Nó dài và mỏng như một thanh kiếm Nhật, đầu nhọn và sáng loáng.

“Tôi lấy từ xác một tên lính Nhật hồi năm bốn tư đấy. Nó bị du kích giết ở Phủ Diễn. Đúng là cái bọn lùn ấy làm cái gì cũng tốt.” Lão nói, bất chợt thở dài: “Có điều chẳng biết dùng nó làm gì.”

Lão lấy tờ giấy quét lên lưỡi dao nhiều lần, quét đến đâu, các vụn giấy rơi đến đấy. Tôi nhìn mà thấy sờ sợ. Lát sau tôi chuyển đề tài:

“Bác đau ốm thế này, sao anh con không về?” Lão im không nói gì. “Mà rồi chính quyền mãi không làm cho bác cái trợ cấp người già. Bác tám mươi tuổi rồi mà”.

“Đúng thế. Tôi sinh đúng ngày mồng Một tháng Năm năm 30, khi bố tôi bị Pháp bắn chết vì tham gia đình công ở Bến Thủy, Vinh.” Tợp thêm chén rượu, lão nói tiếp, mắt rơm rớm: “Nhân quả đấy bác ạ. Cả chuyện thằng con bất hiếu cũng nhân quả nốt!”

Tôi nhìn lão vẻ không hiểu.

“Suốt đời tôi mài dao cho đời. Mà dao thì không chỉ cắt thái mà còn đâm chém. Tức là tôi tham gia vào tội ác. Giờ thì tôi phải chịu cảnh này.”

“Bác nghĩ quẩn rồi. Nghề của bác vô hại, nếu không muốn nói có ích cho đời”, tôi an ủi lão.

“Không. Đêm đêm chúng vẫn đến đấy. Cái bọn trâu bò, lợn gà bị giết ấy mà. Cả người nữa. Thời kháng chiến, thời cải cách ruộng đất tôi mài dao kiếm cho du kích. Bây giờ bọn Việt gian, địa chủ cường hào đến bắt đền tôi, nhiều lắm. Đêm nào cũng đến. Chúng bảo chúng bị oan. Tôi tôi đáng chết. Nhân nào quả ấy thôi, ông giáo ạ”.

*

Cách một ngày, tôi lại đến, và ngạc nhiên thấy lão chết, nằm trên giường, cuống họng bị cắt, tay phải lão còn giữ chặt chiếc kiếm Nhật sáng loáng.

Thái Bá Tân

Một chàng trai sắp bước sang tuổi 30 nhưng luôn lo lắng về tương lai của mình.

Anh luôn tự hỏi giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời mình đang ở phía trước hay những năm tháng anh đã trải qua. Thói quen hằng ngày của anh ta là đến phòng tập thể dục trước khi đến sở làm.

Một buổi sáng, anh chú ý đến một ông lão đã lớn tuổi nhưng vẫn giữ được vẻ cường tráng và lạc quan. Anh làm quen và hai người nói chuyện với nhau về những kinh nghiệm trong cuộc sống.

Cuối cùng chàng trai hỏi: “Đâu là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời ông?”

Không chút lưỡng lự ông lão đáp: “Khi tôi còn là một đứa bé tôi được chăm sóc, nuôi dưỡng bởi cha mẹ, đó là giai đọan đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi tôi đến trường học những kiến thức của thầy cô, bạn bè, đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi tôi nhận được việc làm đầu tiên được gánh vác trách nhiệm và được trả lương bởi những nỗ lực của mình, đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi tôi gặp vợ tôi, chúng tôi yêu nhau, cùng nhau xây dựng gia đình, đó là giai đoạnn đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi tôi là một người cha nhìn những đứa con của mình lớn lên, đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi. Và bây giờ tôi đã 79 tuổi, tôi có sức khỏe. Tôi cảm thấy hạnh phúc và tôi đang yêu vợ tôi như lần đầu chúng tôi gặp nhau. Đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi”.

Mỗi giai đoạn của cuộc đời đều là những giai đọan đẹp nhất nếu chúng ta biết trân trọng và sống hết mình, đừng để thời gian trôi qua một cách vô ích!

CUỘC ĐỜI LÀ MỘT GIẤC MỘNG

Một hôm mộng thấy:

Giàu sang tột đỉnh,

Quyền cao chức lớn,

Hạnh phúc tràn đầy,

Giật mình tỉnh giấc,

Ta vẫn là ta.

Buồn…!!

 

Một hôm mộng thấy:

Nợ nần bủa vây,

Bệnh hoạn tật nguyền,

Tai họa triền miên,

Giật mình tỉnh giấc,

Ta vẫn là ta.

Mừng…!!

 

Buồn vui ta vẫn là ta,

Mộng rồi thức dậy vẫn là tay không.

Một vị khách du lịch thấy người ngư dân nằm trên nóc thuyền liền hỏi:

- Sao ông không ra khơi đánh cá mà giờ còn nằm đây.

- Để làm gì hả ông?- Để ông kiếm được tiền, ông có thể mua thêm một con thuyền nữa.

- Để làm gì hả ông?

- Để ông có thể kiếm tiền nhiều hơn nữa, có thể ông sẽ có cả một đoàn thuyền.

- Sau đó thì làm gì tiếp hả ông.

- Lúc đó ông có thể nghỉ ngơi.

- Thế ông nghĩ bây giờ tôi đang làm gì?

 

Trước miếu Quan Âm mỗi ngày có vô số người tới thắp hương lễ Phật, khói hương nghi ngút. Trên cây xà ngang trước miếu có con nhện chăng tơ, mỗi ngày đều ngập trong khói hương và những lời cầu đảo, nhện dần có Phật tính. Trải nghìn năm tu luyện, nhện đã linh.

Một ngày, bỗng Phật dạo đến ngôi miếu nọ, thấy khói hương rất vượng, hài lòng lắm. Lúc rời miếu, ngài vô tình ngẩng đầu lên, nhìn thấy nhện trên xà.

Phật dừng lại, hỏi nhện: “Ta gặp ngươi hẳn là có duyên, ta hỏi ngươi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay có thật thông tuệ chăng. Được không?”

Nhện gặp được Phật rất mừng rỡ, vội vàng đồng ý. Phật hỏi: “Thế gian cái gì quý giá nhất?”

Nhện suy ngẫm, rồi đáp: “Thế gian quý nhất là những gì không có được và những gì đã mất đi!”. Phật gật đầu, đi khỏi.

Lại một nghìn năm nữa trôi qua, nhện vẫn tu luyện trên thanh xà trước miếu Quan Âm, Phật tính của nhện đã mạnh hơn.

Một ngày, Phật đến trước miếu, hỏi nhện: “Ngươi có nhớ câu hỏi một nghìn năm trước của ta không, giờ ngươi đã hiểu nó sâu sắc hơn chăng?”

Nhện nói: “Con cảm thấy trong nhân gian quý nhất vẫn là “không có được” và “đã mất đi” ạ!”

Phật bảo: “Ngươi cứ nghĩ nữa đi, ta sẽ lại tìm ngươi.”

Một nghìn năm nữa lại qua, có một hôm, nổi gió lớn, gió cuốn một hạt sương đọng lên lưới nhện. Nhện nhìn giọt sương, thấy nó long lanh trong suốt sáng lấp lánh, đẹp đẽ quá, nhện có ý yêu thích. Ngày này nhìn thấy giọt sương nhện cũng vui, nó thấy là ngày vui sướng nhất trong suốt ba nghìn năm qua. Bỗng dưng, gió lớn lại nổi, cuốn giọt sương đi. Nhện giây khắc thấy mất mát, thấy cô đơn, thấy đớn đau.

Lúc đó Phật tới, ngài hỏi: “Nhện, một nghìn năm qua, ngươi đã suy nghĩ thêm chưa: Thế gian này cái gì quý giá nhất?”

Nhện nghĩ tới giọt sương, đáp với Phật: “Thế gian này cái quý giá nhất chính là cái không có được và cái đã mất đi.”

Phật nói: “Tốt, nếu ngươi đã nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người nhé!”

Và thế, nhện đầu thai vào một nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là Châu Nhi. Thoáng chốc Châu Nhi đã mười sáu, thành thiếu nữ xinh đẹp yểu điệu, duyên dáng. Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu khoa, nhà vua quyết định mở tiệc mừng sau vườn ngự uyển.

Rất nhiều người đẹp tới yến tiệc, trong đó có Châu Nhi và Trường Phong công chúa. Trạng Nguyên trổ tài thi ca trên tiệc, nhiều tài nghệ khiến mọi thiếu nữ trong bữa tiệc đều phải lòng. Nhưng Châu Nhi không hề lo âu cũng không ghen, bởi nàng biết, chàng là mối nhân duyên mà Phật đã đưa tới dành cho nàng.

Qua vài ngày, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cũng lúc Cam Lộc đưa mẹ tới miếu. Sau khi lễ Phật, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện. Châu Nhi và Cam Lộc thì tới hành lang tâm sự, Châu Nhi vui lắm, cuối cùng nàng đã có thể ở bên người nàng yêu, nhưng Cam Lộc dường như quá khách sáo.

Châu Nhi nói với Cam Lộc: “Chàng còn nhớ việc mười sáu năm trước, của con nhện trên xà miếu Quan Âm chăng?”

Cam Lộc kinh ngạc, hỏi: “Châu Nhi cô nương, cô thật xinh đẹp, ai cũng hâm mộ, nên trí tưởng tượng của cô cũng hơi quá nhiều chăng?”. Nói đoạn, chàng cùng mẹ chàng đi khỏi đó.

Châu Nhi về nhà, nghĩ, Phật đã an bài mối nhân duyên này, vì sao không để cho chàng nhớ ra chuyện cũ, Cam Lộc vì sao lại không hề có cảm tình với ta? Vài ngày sau, vua có chiếu ban cho Trạng Nguyên Cam Lộc sánh duyên cùng công chúa Trường Phong, Châu Nhi được sánh duyên với thái tử Chi Thụ. Tin như sấm động giữa trời quang, nàng không hiểu vì sao Phật tàn nhẫn với nàng thế.

Châu Nhi bỏ ăn uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi đau đớn, vài ngày sau linh hồn nàng sắp thoát khỏi thân xác, sinh mệnh thoi thóp.

Thái tử Chi Thụ biết tin, vội vàng tới, phục xuống bên giường nói với nàng: “Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc sau vườn thượng uyển, ta vừa gặp nàng đã thấy yêu thương, ta đã khốn khổ cầu xin phụ vương để cha ta cho phép cưới nàng. Nếu như nàng chết, thì ta còn sống làm chi.” Nói đoạn rút gươm tự sát.

Và giây khắc ấy Phật xuất hiện, Phật nói với linh hồn sắp lìa thể xác Châu Nhi: “Nhện, ngươi đã từng nghĩ ra, giọt sương (Cam Lộc) là do ai mang đến bên ngươi chăng? Là gió (Trường Phong) mang tới đấy, rồi gió lại mang nó đi. Cam Lộc thuộc về công chúa Trường Phong, anh ta chỉ là một khúc nhạc thêm ngắn ngủi vào sinh mệnh ngươi mà thôi.

Còn thái tử Chi Thụ chính là cái cây nhỏ trước cửa miếu Quan Âm đó, anh ta đã ngắm ngươi ba nghìn năm, yêu ngươi ba nghìn năm, nhưng ngươi chưa hề cúi xuống nhìn anh ta. Nhện, ta lại đến hỏi ngươi, thế gian này cái gì là quý giá nhất?”

Nhện nghe ra sự thật, chợt tỉnh ngộ, nàng nói với Phật: “Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!”

Vừa nói xong, Phật đã đi mất, linh hồn Châu Nhi quay lại thân xác, mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ định tự sát, nàng vội đỡ lấy thanh kiếm…

Câu chuyện đến đây là hết, bạn có hiểu câu cuối cùng mà nàng Châu Nhi nói không?

“Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!”

Trong suốt đời ta, sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.

Để yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có “duyên” là đủ.

Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

Tình yêu như sợi dây, hai người cùng kéo hai đầu, chỉ cần một người kéo căng hoặc bỏ lơi, tình yêu ấy sẽ căng thẳng hoặc chùng xuống.

Vậy khi bạn đi kiếm người ở đầu kia dây, hãy cân nhắc. Hoặc bạn có quá nhiều sợi dây tình cảm, hoặc bạn cứ liên tục tìm cái mới, hoặc khi dây đã đứt, bạn không còn can đảm hay lòng tin, tình yêu để đi tìm một tình yêu mới nữa.

Bất kể thế nào, khi sợi dây đó đứt, bạn chỉ mất đi một người không yêu bạn, nhưng người đó đã mất đi một người yêu họ.

Mất một người không biết trân quý bạn, có gì phải buồn rầu?

Bởi bạn còn cơ hội, một lần nữa, gặp người biết rằng bạn quý giá.

Có muốn nghe tôi kể câu chuyện ấy lần nữa không, ngày xưa, trước miếu Quan Âm….